| Tình trạng sẵn có: | |
|---|---|
| Số lượng: | |
Các cơ chế bổ sung – IL-31/mô hình vết thương mô phỏng tình trạng ngứa liên quan đến quá trình lành vết thương; Mô hình AEW mô phỏng tình trạng da khô và ngứa do phá vỡ hàng rào bảo vệ.
Điểm cuối có thể định lượng được – Các lần cào (hành vi cào) được ghi lại và định lượng trong khoảng thời gian xác định.
Điểm cuối toàn diện – Hành vi trầy xước, thâm nhiễm tế bào đuôi gai (mô hình IL-31), mô bệnh học da, nồng độ IL-31 trong da (mô hình AEW).
Giá trị tịnh tiến - Lý tưởng để thử nghiệm thuốc kháng histamine, thuốc chẹn IL-31, thuốc ức chế JAK, thuốc đối kháng TRPV1 và các chất chống ngứa khác.
Gói dữ liệu sẵn sàng cho IND – Các nghiên cứu có thể được thực hiện theo nguyên tắc GLP.
IL-31 & Vết thương gây ngứa C57BL/6 Model

Mô hình ngứa do AEW gây ra C57BL/6

• Thử nghiệm hiệu quả của các thuốc chống ngứa: thuốc kháng histamine (cetirizine, fexofenadine), thuốc chẹn IL-31 (nemolizumab), thuốc ức chế JAK (tofacitinib, baricitinib), thuốc đối kháng TRPV1
• Xác nhận mục tiêu cho con đường IL-31, chức năng hàng rào bảo vệ da và các tương tác thần kinh-miễn dịch
• Phát hiện dấu ấn sinh học (IL-31, số lượng vết xước, dấu hiệu hàng rào bảo vệ da)
• Nghiên cứu cơ chế tác dụng (MOA) trong điều trị ngứa
• IND cho phép nghiên cứu dược lý và độc tính
tham số |
IL-31 & Mô hình gây ra vết thương |
Mô hình cảm ứng AEW |
Loài/Chủng |
Chuột C57BL/6 |
Chuột C57BL/6 |
Phương pháp cảm ứng |
Vết thương ngoài da + tiêm IL-31 trong da | Bôi axeton/ete/nước (AEW) tại chỗ lên da lưng (hàng ngày trong 2–5 ngày) |
Thời gian học |
1–7 ngày sau vết thương/IL-31 | 2–7 ngày sau điều trị AEW |
Điểm cuối chính |
Vết xước (30–60 phút), thâm nhiễm tế bào đuôi gai trong da (đo tế bào dòng chảy/IHC) |
Vết xước, mô bệnh học da (HE), nồng độ IL-31 trong da (ELISA), hình ảnh lâm sàng |
Gói dữ liệu |
Dữ liệu thô, báo cáo phân tích, dữ liệu hành vi (video cào), slide mô học, kết quả ELISA, tin sinh học (tùy chọn) | |
Hỏi: Sự khác biệt giữa hai mô hình ngứa là gì?
Trả lời: IL-31 & mô hình vết thương mô phỏng tình trạng ngứa liên quan đến quá trình lành vết thương, do IL-31 và sự xâm nhập của tế bào viêm gây ra. Mô hình AEW gây ra tình trạng khô da và phá vỡ hàng rào bảo vệ, dẫn đến ngứa do chứng khô da và tăng sản xuất IL-31. Chọn dựa trên mục tiêu điều trị của bạn (con đường IL-31 so với phục hồi hàng rào bảo vệ da).
Hỏi: Hành vi gãi được định lượng như thế nào?
Đáp: Các trận cào được ghi lại bằng hệ thống giám sát video (thủ công hoặc tự động). Thông thường, một cơn gãi được định nghĩa là một hoặc nhiều chuyển động gãi hướng vào vùng bị ảnh hưởng (vết thương hoặc da lưng) trong một khoảng thời gian xác định (ví dụ: 30–60 phút).
Câu hỏi: Những mô hình này có thể được sử dụng cho các nghiên cứu hỗ trợ IND không?
Đ: Vâng. Các nghiên cứu có thể được thực hiện theo các nguyên tắc GLP khi nộp hồ sơ quản lý (FDA, EMA).
Hỏi: Bạn có cung cấp các phác đồ nghiên cứu tùy chỉnh (ví dụ: các liều IL-31 khác nhau, lịch điều trị AEW) không?
Đ: Chắc chắn rồi. Nhóm khoa học của chúng tôi điều chỉnh các phác đồ cảm ứng, lịch trình điều trị và phân tích điểm cuối cho phù hợp với loại thuốc cụ thể của bạn.
Hỏi: Thời gian điển hình cho một nghiên cứu hiệu quả thí điểm là gì?
Đáp: Cả hai mô hình đều cấp tính (1–7 ngày), cho phép sàng lọc nhanh các hợp chất chống ngứa. Các nghiên cứu thường được hoàn thành trong vòng 5–7 ngày sau khi cảm ứng.