| Tình trạng sẵn có: | |
|---|---|
| Số lượng: | |
Liên quan đến lâm sàng - Tóm tắt AD ở người: viêm da, tăng sản biểu bì, sai lệch Th2, IgE tăng cao.
Ba mô hình bổ sung – DNCB, DNCB+IL-31 và HDM+SEB bao gồm các kiểu mẫu AD khác nhau.
Định lượng ngứa - Ghi điểm các sự kiện ngứa trong mô hình IL-31 để đánh giá hiệu quả chống ngứa.
Phân tích đa điểm - Điểm lâm sàng, độ dày của tai, hồ sơ cytokine (IL-4, IL-13, IL-31), mô bệnh học, mRNA/protein của da.
Gói dữ liệu sẵn sàng cho IND – Các nghiên cứu có thể được thực hiện theo nguyên tắc GLP.
Dữ liệu đại diện từ Mô hình Viêm da dị ứng NHP (AD) của chúng tôi:
Mô hình NHP AD cảm ứng DNCB


DNCB + IL-31 Mô hình NHP AD cảm ứng

Mô hình NHP AD cảm ứng HDM + SEB

• Thử nghiệm hiệu quả của thuốc chống viêm và chống ngứa (sinh học, thuốc ức chế JAK, thuốc bôi)
• Xác thực mục tiêu cho các lộ trình Th2, Th17, Th22 trong AD
• Phát hiện dấu ấn sinh học (IgE, IL-4, IL-13, IL-31, TSLP)
• Điều tra cơ chế hoạt động (MOA)
• Nghiên cứu dược lý an toàn và độc tính cho phép IND
tham số |
Mô hình cảm ứng DNCB |
Model cảm ứng DNCB + IL-31 | Mô hình cảm ứng HDM+SEB |
Giống loài |
Khỉ Cynomolgus |
Khỉ Cynomolgus | Khỉ Cynomolgus |
cảm ứngPhương pháp |
DNCB bôi tại chỗ lặp đi lặp lại (2,4-dinitrochlorobenzen) |
Quản trị DNCB + IL-31 | HDM + SEB (Độc tố tụ cầu B) |
Thời gian học |
4– 6 tuần |
4–6 tuần (DNCB) + liều IL-31 | 6–8 tuần |
Điểm cuối chính |
Điểm lâm sàng, độ dày tai, mô bệnh học da, cytokine Th2 (IL-4, IL-13), IgE, mRNA của da |
Điểm lâm sàng, tình trạng ngứa, độ dày của tai, cytokine trên da (IL-4, IL-13), điểm mô bệnh học | Điểm lâm sàng, IgE, cytokine Th2/Th17/Th22, mô bệnh học da |
Gói dữ liệu |
Dữ liệu thô, báo cáo phân tích, slide mô học, tin sinh học (tùy chọn) | ||
Hỏi: Sự khác biệt giữa ba mô hình AD là gì?
Trả lời: Mô hình DNCB tập trung vào tình trạng viêm giống viêm da tiếp xúc; DNCB+IL-31 gây thêm tình trạng ngứa dai dẳng để bắt chước chu kỳ ngứa-gãi; Mô hình HDM+SEB thể hiện tốt hơn AD dị ứng với sự tham gia của IgE và kích hoạt Th2/Th17/Th22.
Hỏi: Mô hình nào là tốt nhất để thử nghiệm thuốc chống ngứa?
Trả lời: Mô hình DNCB+IL-31 được thiết kế đặc biệt để mô phỏng tình trạng ngứa mãn tính với các hiện tượng ngứa có thể định lượng được, khiến mô hình này trở nên lý tưởng để đánh giá hiệu quả chống ngứa.
Câu hỏi: Những mô hình này có thể được sử dụng cho các nghiên cứu hỗ trợ IND không?
Đ: Vâng. Các nghiên cứu có thể được thực hiện theo các nguyên tắc GLP khi nộp hồ sơ quản lý (FDA, EMA).
Hỏi: Bạn có cung cấp các phác đồ nghiên cứu tùy chỉnh không?
Đ: Chắc chắn rồi. Nhóm khoa học của chúng tôi điều chỉnh chế độ dùng thuốc, phân tích điểm cuối và lựa chọn mô hình cho phù hợp với loại thuốc cụ thể và MOA của bạn.